“… Bên sông Babylon, chúng tôi ngồi khóc, nhớ về Zion. Quân thù đã lưu đày và bắt chúng tôi hát. Làm sao chúng tôi có thể hát được bài ca của Thiên Chúa nơi vùng đất lạ…”
Vũ Thế Thành
Đó là lời của bài hát “Rivers of Babylon”, nguyên văn như sau:
“…By the rivers of Babylon, there we sat down, yea, we wept, when we remembered Zion… They carried us away in captivity requiring of us a song… Now how shall we sing the Lord’s song in a strange land?”
Lời của bài hát này được trích nguyên văn từ kinh Psalm của sách Cựu Ước để hình thành lời ca. Kinh Psalm, tiếng Việt gọi là kinh Thi Thiên, hay Thánh Vịnh, gồm những bài thơ cầu nguyện và ca ngợi Thiên Chúa.
Cách nay hơn 2.500 năm, Jerusalem, thánh địa của Do Thái, bị đế quốc Babylon chiếm đóng. Vua, quan và dân Do Thái bị đày đến Babylon (thuộc Iraq ngày nay) và các thị trấn lân cận đó.
Zion (Sion) nằm trên ngọn đồi phía đông thành Jerusalem, là trung tâm văn hóa chính trị thời vua David. Nói tới Zion là nói về Jerusalem, với ước mơ trở về quê cũ.
Đời sống lưu đày của người Do Thái ở Babylon thực ra không khổ sở, nếu không muốn nói là sung túc hơn ở quê nhà do chính sách thông thoáng của Babylon. Dân Do Thái vẫn được tự do thực hành niềm tin tôn giáo của mình, xây cất hội đường…Kẻ lưu đày không khóc vì bị hà hiếp, mà khó vì nhớ quê. Trong lòng họ vẫn không nguôi nhớ về cố quốc, ao ước trở về để xây dựng lại thành thánh Jerusalem đã bị phá hủy trong chiến tranh.
Gần 50 năm sau, ước mơ về cố quốc của dân lưu đày mới thành hiện thực.
Bài hát “Rivers of Babylon” do Brent Dowe và Trevor McNaughton sáng tác vào năm 1970 và được dùng làm nhạc phim vào năm 1972. Và ca khúc chỉ nổi tiếng khắp thế giới trong thập niên 70 với ban nhạc Boney M.
Ca từ là kinh thánh nên lời lẽ đậm nỗi buồn nỗi nhớ, nhưng ca khúc lại được thể hiện rất nhộn, rất trẻ trung. Mặc dù trích nguyên văn từ kinh thánh, nhưng ca khúc Rivers of Babylon không được xem là thánh ca, hát trong nhà thờ.
Vũ Thế Thành




